Carrote sauvage – Cà rốt dại

  • plante herbacée bisannuelle de 30 cm à 1m, couverte de petits poils raides sur les tiges et les feuilles. ( Thân cỏ sống 2 năm, cao từ 30 cm đến 1m, có lông nhỏ cứng phủ quanh trên thân cây và trên lá)
  • tiges dressées et ramifiées, souvent striées dans le sens de la longueur. ( Thân thẳng đứng và phân nhánh, thường bị rạch sọc theo chiều dài)
  • feuilles dégageant au froissement une odeur caractéristique de carotte. Les feuilles de la base sont en rosette et d’autres sont disposées sur les tiges. Elles sont profondément divisées en lobes dentés, ovales ou allongés. ( lá bị vò nát sẽ tỏa ra mùi đặc trưng của cà rốt. Lá bên dưới xếp hình hoa thị và các lá còn lại phân bố trên thân. Lá hình răng, oval hay dài)
  • fleurs petites et blanches, n’apparaissant que la deuxième année de vie de la plante entre mai et octobre. Elles sont réunies en grandes ombelles regroupant 20 à 30 ombellules(voir Glossaire), avec souvent une fleur pourpre, stérile et caractéristique au milieu. L’involucre et les involucelles sont composés de bractées divisées en lobes pointus. ( bông hoa nhỏ và trắng, chỉ xuất hiện khi cây được 2 tuổi, giữa tháng năm và tháng 10. Các bông tập hợp lại thành cụm, từ 20 đến 30 cụm nhóm lại thành khóm lớn, thường có một bông màu tía, hoa đực và đặc trưng nằm giữa. Các bao chung ( lá nhỏ dưới khóm hoa) được chia thành các thùy nhọn)
  • fruits recouverts de petits poils accrocheurs, dégageant eux aussi au froissement une odeur très aromatique mais différente de celle des feuilles. L’odeur de ces fruits rappelle la térébenthine quand ils sont encore très verts, puis la poire Williams à mesure qu’ils murissent. A ce moment, l’ombelle se replie sur elle-même en une forme que l’on qualifie de « nid d’oiseau ». ( quả được bao phủ bởi các lông nhỏ, khi vò nát cũng tỏa ra mùi rất thơm nhưng khác với lá. Mùi giống như nhựa thông khi chúng còn xanh, và khi chín có mùi lê Williams. Vào thời điểm này, các khóm hoa sẽ gập lại thành hình dạng như “tổ chim”.)
  • racine pivotante développée et charnue, de couleur blanche à violacée, à l’odeur caractéristique de carotte(forcément me direz-vous !). Très tendre la première année, elle devient ligneuse (= boisée et par conséquent immangeable) l’année suivante lorsque la hampe florale se développe… ( rễ cọc phát triển và có thịt, màu trắng đến màu hoa cà, mùi đặc trưng của cà rốt. Rất mềm ở năm đầu tiên, năm kế tiếp sẽ trở nên cứng khi ta thấy cán hoa phát triển ( vì thế ăn không ngon)

Propriétés : contrairement à la racine de carotte cultivée qui est orange, celle de la carotte sauvage contient très peu de provitamine A. Elle contient toutefois d’autres vitamines. Les fruits sont stimulants, digestifs, carminatifs (voir Glossaire) et riches en huile essentielle. ( Đặc tính: trái ngược với cà rốt trồng, củ của cà rốt dại chứa rất ít provitamin A. Tuy nhiên nó chứa các vitamin khác. Quả làm tăng cường tiêu hóa và gây trung tiện và nhiều tinh dầu)

Habitat : bord des chemins, bord de mer, friche. ( Nơi sống: vệ đường, bờ biển, đất hoang)

Utilisations possibles : la racine est donc comestible et savoureuse la première année, crue ou cuite, mais trop souple pour être râpée. Elle est plus sucrée et plus parfumée que la carotte cultivée. L’enjeu pour qui veut en manger la racine est donc de réussir à reconnaître la plante sans ses fleurs, simplement grâce à ses feuilles. C’est là qu’il est primordial de connaître l’adage que je viens d’inventer pour l’occasion (mais l’info botanique est vraie !) : ( Cách sử dụng: Củ có thể ăn được và rất ngon ở năm đầu, bằng cách ăn sống hoặc nấu chín, nhưng rất mềm để nạo. Ngọt và thơm hơn cà rốt trồng. Vấn đề là làm sao nhận biết ra cây này khi chúng chưa có hoa, chính là nhờ lá của chúng)

« Les Ombellifères à feuilles divisées et tiges poilues sont bonnes pour mon menu !» ( Các tán hoa, lá và thân non thì ngon để chế biến)

En effet, ce dicton vous évitera tout risque de confusion avec les ciguës, Conium sp, aux feuilles également très divisées mais glabres (= sans poil). Vos systèmes nerveux et respiratoires ne vous pardonneraient pas une telle erreur… ( Tránh nhầm lẫn với cây độc cần, lá cũng phân cắt như lá cà rốt dại nhưng nhẵn nhụi ( không lông). Hệ thần kinh và hô hấp sẽ không tha thứ cho bạn một lỗi lầm như vậy )

Hình ảnh có liên quan
Cây độc cần – Lá không lông

La carotte est originaire d’Iran où elle a été « domestiquée » au Xe siècle (carottes violettes, à cause de la présence d’anthocyanes, ou jaunes), puis une autre domestication s’est faite en Hollande au XVIIe à partir d’une autre lignée (carotte orange). C’est pourquoi il existe aujourd’hui parmi les variétés cultivées de très nombreuses couleurs de racine. ( Cà rốt có nguồn gốc từ Iran nơi chúng được “thuần dưỡng” vào thế kỷ thứ X ( cà rốt tím hay vàng), kế tiếp là sự thuần dưỡng khác ở Hà Lan vào thế kỷ XVII từ một dòng khác ( cà rốt da cam). Đó là vì sao ngày nay tồn tại rất nhiều màu củ trong số loại được trồng )

Les fleurs peuvent être ajoutées comme décoration comestible aux salades et les fruits, avec leur saveur aromatique, sont excellents dans des plats salés (par exemple soupe de carotte aux graines de carotte 😉 ) ou sucrés (Une délicieuse crème pour napper les salades de fruits). Il faut simplement les cueillir au stade adéquat de maturité : quand elles commencent à mûrir, à tirer vers le brun, mais sont encore un peu vertes. ( Hoa có thể thêm vào các món salade để trang trí và ăn được, quả với mùi thơm sẽ rất tuyệt với cho các món mặn hay đường. Hái chúng vào giai đoạn phù hợp: khi bắt đầu chín, màu hơi nâu nhưng vẫn còn một chút xanh)

Confusions possibles : avec d’autres ombellifères mais ce devrait être facile à éviter. La criste marine et la berce spondyle ont aussi des fleurs blanches en ombelles d’ombellules, mais leurs feuilles sont vraiment différentes. La criste est succulente, la berce a ses feuilles entières ou divisées en 5 à 7 folioles anguleuses. ( Tránh nhầm lẫn với các cây hoa tán khác. Cây thìa biển và cây bạch chỉ cũng có tán (khóm) hoa trắng, nhưng lá rất khác. Cây thìa mọng nước, cây bạch chỉ có lá toàn vẹn hay được phân cắt thành 5-7 lá chét góc cạnh)

 

Hình ảnh có liên quan
Cây thìa biển
Kết quả hình ảnh cho cây bạch chỉ
Cây bạch chỉ

Le danger réside dans la confusion avec les ciguës. A retenir surtout que les ciguës sont glabres, alors que la carotte est couverte de poils raides, et que seule la grande ciguë, Conium maculatum, partage le même habitat que la carotte sauvage. La petite ciguë pousse dans les lieux cultivés et dans les bois, et la ciguë vireuse pousse dans les lieux humides, voire franchement les pieds dans l’eau. De plus, leurs feuilles froissées, leur racine et leurs fruits ne dégagent pas les odeurs qu’ont ceux de la carotte, mais plutôt une odeur désagréable. Leurs fruits sont globuleux et non pas hérissés de poils accrocheurs comme la carotte. ( Mối nguy hiểm nằm trong sự nhầm lẫn với cây độc cần. Nhớ rằng cây độc cần không lông, trong khi cà rốt được phủ bởi lớp lông cứng, và chỉ cây độc cần lớn mới sinh sống cùng nơi với cà rốt dại. Cây độc cần bé mọc nơi đất trồng và trong rừng, loài cây độc này mọc những nơi có độ ẩm. Hơn nữa, lá, rễ và quả của chúng khi bị vò nát không tỏa ra mùi cà rốt, mà là một mùi khó chịu. Quả có hình cầu, không có lông bám lấy như cà rốt )

Nguồn: http://www.lavisdesplantes.fr

Hình ảnh có liên quan
Hoa cà rốt dại
Hình ảnh có liên quan
Cà rốt dại
Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s